KBC Hải Ngoại, tờ báo của người lính cũ qua những “đoạn đường chiến binh”
Monday, November 17, 2008
Trên kệ báo Việt ngữ tại hải ngoại, người ta để ý đến một tờ tạp chí khổ lớn, mang cái tên có dính líu đến cuộc đời quân ngũ của người lính VNCH trước tháng 5-1975, đó là tờ KBC Hải Ngoại. KBC viết tắt từ mấy chữ Khu Bưu Chính là những hộp thư của các đơn vị cũ của Quân Lực VNCH, như APO của Lục Quân Hoa Kỳ. Mỗi quân nhân sau số quân của mình, như một loại số An Ninh Xã Hội của mọi người dân trên đất Mỹ, người lính cần phải nhớ tới con số KBC của mình cho việc trao đổi liên lạc bằng thư tín. Ngay bây giờ ra hải ngoại, qua một thời gian dài, nhiều người có thể quên số quân của mình vì dài 8 số những không ai quên được KBC của mình vì nó chỉ có 4 số. Vậy KBC Hải Ngoại, chính là đơn vị tại hải ngoại của những người lính không còn quân đội.
Sau tháng 4-1975, tại hải ngoại, một số anh em chiến hữu vì nhu cầu tinh thần gắn bó với nhau, đã xuất bản tờ báo “Lính”, rồi sau đó là tờ “KBC”. Trong giai đoạn đầu tiên định cư trên đất khách, mặc dầu cuộc sống còn khó khăn, vất vả, nhưng tờ báo cũng là nơi anh em tìm đến nhau, chia xẻ vui buồn, nhớ lại bao nhiêu kỷ niệm của những ngày chiến đấu gian khổ nhưng hào hùng bên nhau. Tuy vậy tờ báo không nuôi sống được những người chủ trương tờ báo, nên tờ “KBC” dù đã sống qua một thời gian dài cũng đã phải đình bản.
Năm 1991, sau khi có chương trình cựu tù nhân chính trị được định cư tại Hoa Kỳ, chúng ta có nhu cầu tập hợp với nhau để có một tờ báo lính, nói rõ là một tờ báo cho những người cựu chiến binh VNCH tại hải ngoại. Do đó, một số các ký giả cựu quân nhân như các anh Nguyên Huy, Du Tử Lê, Vương Hồng Anh, Ðặng Trần Hoa, Anh Thành, Lê Xuân Mai tức Lê Tường Vũ, sau có thêm Vương Trùng Dương... đã góp công sức cho ra đời tờ báo mang tên “KBC Hải Ngoại” và được sự giúp vốn vô điều kiện của chủ nhân nhà hàng Nguyễn Huệ tại Quận Cam là ông Nguyễn Văn Cảnh, đôi khi cũng được sự tiếp trợ của nhật báo Người Việt với các cựu quân nhân Ðỗ Việt Anh và Nguyễn Phước Quan.
Năm 1994, KBC Hải Ngoại được giao về cho Tập Thể Cựu Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại đảm trách và do ông Võ Long Triều làm chủ nhiệm, nhưng lại phải gặp những khó khăn về biên tập và phát hành nên phải ngưng xuất bản. Sau một thời gian, tờ KBC Hải Ngoại trở thành KBC Hải Ngoại bộ mới và do bộ biên tập gồm có chủ nhiệm: Bồ Ðại Kỳ, chủ bút: Nguyên Huy, tổng thư ký tòa soạn: Lê Tường Vũ, phụ tá TTK là Ðặng Phúc và một hội đồng quản trị 7 người góp lại vốn mà chủ tịch là Tô Phạm Thái. Tất cả đều là những cựu quân nhân QLVNCH. Từ đây KBC Hải Ngoại đã bước sang một giai đoạn mới với tiêu đề: “Trước hiện tại ngẫm về quá khứ, nhìn vào tương lai”. Tờ KBC Hải Ngoại hiện nay ấn hành khổ lớn, phát hành mỗi tháng một lần, trình bày với nhiều hình ảnh mỹ thuật và bài vở rất phong phú, mỗi tháng mang mỗi chủ đề.
Hiện nay tờ KBC Hải Ngoại yểm trợ cho mọi hoạt động của các hội đoàn cựu quân nhân VNCH tại hải ngoại trong công cuộc chống Cộng và tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ và tự do cho Việt Nam, nhưng là một tờ báo độc lập, không trực thuộc hoặc chịu sự điều khiển của bất cứ đoàn thể hay đảng phái chính trị nào.
KBC Hải Ngoại mong được sự tiếp tay của quý chiến hữu để tạp chí được sống còn, là nơi để các chiến hữu có thể trao đổi với nhau những kỷ niệm của thời quân ngũ, liên lạc, yểm trợ cùng nhau trong cuộc đấu tranh chung.
Các chiến hữu gởi bài vở, yểm trợ hoặc mua báo dài hạn gởi đến địa chỉ nhà, xin liên lạc: Tòa Soạn và Trị Sự: 11901 Westminster Ave. # C, Garden Grove, CA 92843- Ðiện thoại: (714) 554-1974- & (714) 412-0913
E mail: kbchaingoai@yahoo.com
Một buổi văn nghệ và dạ tiệc gây quỹ cho KBC Hải Ngoại sẽ được tổ chức tại nhà hàng Paracel Seafood, 15583 Brookhurt St., Westminster vào lúc 17:00 đến 23:00 PM ngày Chủ Nhật 23 tháng 11-2008. Mong đồng hương và quý chiến hữu đến hỗ trợ cho tờ báo của những người, “tuy không còn quân đội, nhưng quân đội luôn luôn ở trong lòng” của những người lính năm xưa.


Quê hương nào để anh gởi nắm xương tàn?
Phạm Hùng K10B72
Kính tặng vong linh người phi công anh hùng và chị Ngọc Di, người quá phụ chung tình.
Lúc anh sống bị tù đày khốn khổ
Khi chết đi thân vùi hố bên đường
Da thịt tan vào đất lạnh thấm sương
Nhưng xương trắng ..dường như còn chờ đợi!
Ba mươi năm, người vợ hiền tìm tới
Hốt xương khô về ấp ủ phương xa
Nơi bầu trời hun hút rộng bao la
Tự do thở như anh hằng mong ước…
Hy vọng đó hôm nay mới có được
Ðời thanh bình hết chinh chiến khổ đau
Anh trở về nối lại thuỡ hôm nào
Bên người vợ bao năm trường ly cách
Vấn khăn tang ôm nỗi sầu cô quạnh
Mừng chồng về hạnh ngộ chạnh lòng đau!
Bao năm qua anh bay bổng nơi nào
Cánh chim sắt, phi bào ngày xưa ấy ..
Anh trở lại ..vợ, con thơ nào thấy!
Chỉ nắm xương nằm đáy quan tài buồn
Quốc kỳ vàng ba sọc đỏ phủ buông
Rưng ngấn lệ khóc buồn người tao ngộ!
Vong linh hởi, người phi công bạc số
Hãy nghỉ yên nơi mảnh đất xa quê
Cánh chim trời vẫn giữ vẹn ước thề
Vượt ngàn dặm đã bay về tổ ấm ..
Gẩy cánh chim trời .
Xa ngày tháng miệt mài bên trang vở
Anh ra đi vì tiếng gọi non sông
Tung cánh chim anh thoả chí tang bồng
Rồi gẩy cánh một ngày thân tù tội
Cùng bè bạn đợi đêm về bóng tối
Anh tìm đường về nơi chốn bình an
Định mệnh nào gây chi cảnh trái ngang
Anh gục ngả đạn cày lên thể xác
Bạn bè anh trong nổi đau mất mác
Dựng mồ anh cô quạnh giửa rừng hoang
Trong tiếc thương đốt gởi một nén nhang
Bên hàng nến nhạt nhoà buồn vội bước
Người cô phụ bao năm đời xuôi ngược
Bao nhiêu năm con trẻ dại không cha
Nuôi trong lòng một ước vọng cao xa
Ngày đoàn tụ dù chỉ là vô vọng
Ngày hôm nay bên hai hàng lệ đọng
Anh đã về bên cạnh những người thân
Phủ bóng cờ trong Tổ Quốc Ghi Ân
Người chiến sỉ anh hùng mang Cánh Thép.
SVSQ Lê Chiến khóa 8/72
Chi Đoàn 2/15 TK Lử Đoàn III KB


Ngày còn bé anh thường hay mơ ước
Như chim bằng đang xoải cánh tung bay
Liệng chao nghiêng giữa khoảng rông trời mây
Và ấp ủ dáng hình loài Thiết Điểu
Qua năm tháng anh giã từ đời niên thiếu
Bước đăng trình theo nỗi khó quê hương
Xếp bút nghiên anh dấn bước lên đường
Mang Cánh Thép, góp phần cho quê Mẹ
Nuôi chí cả, tung hoành, năm năm lẽ
Vận nước trôi, anh chịu cảnh tù đày
Đã hết rồi, đành xếp mộng trời mây!
Và gậm nhấm nỗi hờn trong cũi sắt!!!
Lệ anh hùng bao đêm vương tròng mắt
Anh quyết tâm đào thoát khỏi xiềng gông
Nhưng cao xanh, không thỏa kẻ có lòng
Anh ngã xuống, vết đạn thù cày xác
Đã mấy mươi Thu, hồn anh phiêu bạt
Giờ trở về, hôi ngộ chiến hữu xưa
Tình yêu thương biết nói mấy cho vừa
Xin anh hãy ngậm cười trong yên nghỉ...






















Sáng hôm qua Thứ Bảy 8 tháng 11, hàng trăm cựu phi công của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và đại diện của hầu hết quân binh chủng trong Quân Lực VNCH trước năm 1975 đã làm lễ truy điệu thật trọng thể hai chiến sĩ không quân, cố Trung Úy Nguyễn Văn Lộc và cố Trung Úy Lê Văn Bé tại nghĩa trang Peek Family trong thành phố Westminster, Nam California.
Chủ tọa buổi lễ là Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, chủ tịch hội đồng đại diện Tập thể Chiến Sĩ VNCH hải ngoại. Cùng có mặt là các anh em phi công trong hai phi đoàn 548 và 550 là phi đoàn mà các phi công Lộc và Bé phục vụ. Ngoài ra đại diện các đơn vị không quân VNCH và các quân binh chủng QLVNCH khắp 4 vùng chiến thuật cũng đều hiện diện.
Sở dĩ buổi lễ truy điệu và tưởng niệm này được sự tham dự đông đảo của các cựu chiến binh QLVNCH ở Nam California vì tinh thần chiến đấu và bất khuất của hai chiến sĩ không quân Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé đã như là biểu tượng cho người lính chiến VNCH trong cuộc chiến chống sự xâm lăng của cộng sản.
Nhắc lại những hoạt động anh hùng ấy của hai chiến hữu Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé, cựu phi công Nguyễn Thanh Mẫn, người đồng tù và đã cùng anh em bạn tù chôn cất cho hai chiến hữu của mình, xúc động kể rằng: “Khi mặt trận Phan Rang bị thất thủ, các anh đã tiếp tục chiến đấu trong mặt trận kiêu hùng Xuân Lộc. Ngày 28 tháng 4 các anh được lệnh ở lại để chuyển phi cơ ra Côn Sơn Phú Quốc. Ba Mươi Tháng Tư đến các anh đã bị bắt đi tập trung cải tạo, bị hành hạ khổ sai. Phản ứng trước những chính sách trả thù tàn độc đối với người tù cải tạo của cộng sản, các anh đã cùng anh em tổ chức vượt ngục. Chỉ có hai anh Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé thoát được nhưng ba ngày sau đã bị bắt lại. Trước khi bị bắt, hai anh đã chống cự mãnh liệt và đã bị cộng sản bắn chết”.
Trong một đoạn văn được phổ biến trên báo mới đây, cựu phi công Nguyễn Thanh Mẫn có kể chi tiết rằng: “Thân xác đẫm máu và đầy những lỗ đạn tàn ác của Lộc và Bé đã bị bọn CS lôi về phơi giữa trại tù để đe dọa cùng dằn mặt những tù nhân khác. Hai anh được các bạn tù chôn dưới một gốc cây và lén lút làm dấu hầu sau còn có thể tìm ra”.
Câu chuyện thương tâm được nhiều bạn bè chiến hữu kể tiếp rằng anh Lê Văn Bé lúc ấy chưa có gia đình, mới có vị hôn thê còn anh Nguyễn Văn Lộc thì đã có vợ và đang mang thai đứa con đầu lòng, chị Ngọc Di. Chị Ngọc Di lúc này đã được bạn bè chiến hữu của anh Lộc đưa di tản sang Hoa Kỳ và đã sanh cháu Nguyễn Lộc Ðan Vi. Không bị lôi cuốn trong cuộc sống an thân ở hải ngoại và vì ngưỡng phục tinh thần của người chồng anh hùng nên trong suốt 30 năm trường chị Ngọc Di ở vậy nuôi con và không ngớt tìm mọi cách để tìm được hài cốt của chồng. Chị Ngọc Di đã nhiều lần nói với bạn chiến đấu cũ của chồng rằng: “Bằng mọi giá Di phải tìm cho ra mộ của hai anh Lộc và Bé. Ba mươi ba năm trước anh Lộc đã lo chi Di ra khỏi Việt Nam thì Di cũng hứa với vong linh anh là Di sẽ đưa anh đến Mỹ (xương cốt), một nơi thiên đàng tự do mà anh đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng...”
Không chỉ có chị Ngọc Di đi tìm hài cốt chồng mà gia đình anh Bé ở Việt Nam và cựu phi công Nguyễn Thanh Mẫn định cư ở Úc cũng gia công tìm kiếm. Trời đã không phụ lòng người nên mộ của hai anh Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé đã được tìm thấy.
Ngày 3 tháng 11 vừa qua hài cốt của anh Nguyễn Văn Lộc và một phần hài cốt của anh Lê Văn Bé đã tới phi trường Los Angeles do chị Ngọc Di, cháu Ðan Vi và cựu phi công Nguyễn Thanh Mẫn đem từ Việt Nam qua. Hài cốt của phi công Lê Văn Bé sở dĩ chỉ có một phần vì gia đình anh Bé còn ở Việt Nam và đã thuận cho chị Ngọc Di đưa một phần hài cốt của anh sang Mỹ chôn chung với anh Lộc vì khi sống hai người đã đồng cam cộng khổ trong chiến đấu, ngục tù rồi chết bên nhau.
Trước những thương tâm và xúc động ấy, Tổng Hội Không Lực VNCH hải ngoại và toàn thể chiến sĩ VNCH đã tổ chức lễ phủ cờ trên hai quan tài đựng hài cốt của hai anh, đồng thời Tổng Hội Không Lực cũng nêu danh các anh bằng bản tuyên dương công trạng do một niên trưởng, cựu chỉ huy trưởng của hai anh tuyên đọc trong lễ truy điệu.
Trong dịp này Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh và đại diện các quân binh chủng, cảnh sát quốc gia đã lần lượt lên đọc ai điếu và chia buồn cùng chị Ngọc Di. (NH)
Kính gởi toàn thể qúi vị cùng các chiến hữu:
Xin được gởi đến qúy vị cùng các chiến hữu về lễ truy điệu và tưởng niệm cho hai vị anh hùng bất khuất của Quân Đội VNCH nói chung và KQVN nói riêng --- cố Tr/Úy Nguyễn Văn Lộc và cố Tr/Úy Lê Văn Bé.




Tr/Úy Nguyễn Văn Lộc
Tr/Úy Lộc thuộc Khóa 70A, là phi công A-37 trong PĐ 548 tại Phan Rang còn Tr/Úy Bé xuất thân từ Khóa 69B cũng là phi công A-37 nhưng với PĐ 550 tại Đà Nẵng. Khi đại nạn 30 tháng 4, 1975 bao trùm cả miền Nam VN, hai anh bị kẹt lại và phải đi “cải tạo” tại trại tù Long Khánh. Lộc và Bé cùng môt số bạn tù đã âm mưu trốn tù bằng cách lén lút dự trữ thực phẩm và lựu đạn. Vào ngày 26 tháng 3 năm 1976, hai anh trốn tù nhưng bị bọn CS phát giác lùng bắt. Hai anh chẳng những không đầu hàng mà còn liệng lựu đạn chống trả nên đã bị bọn chúng bắn chết. Hai anh đã biết rằng nếu để bọn chúng bắt sống thì cũng bị xử bắn truớc mặt đồng đội mà thôi. Tinh thần bất khuất ấy cùng những chi tiết vuợt tù này đã được tác giả Nguyễn Mạnh Trinh viết trong bài “Chuyện những người KQ ngày tan chiến” và đuợc phổ biến rộng rãi, kể cả trên Cánh Thép.
Thân xác đẫm máu cùng đầy những lỗ đạn tàn ác của Lộc và Bé đã bị bọn CS lôi về phơi giữa trại tù để đe dọa cùng dằn mặt những tù nhân khác. Hai anh đuợc các bạn tù chôn dưới một góc cây và lén lút làm dấu hầu sau còn có thể tìm ra. Gia đình của Bé có ra thăm nhưng không đuợc bốc mộ. Lúc đó Bé tuy còn độc thân nhưng đã có vị hôn thê, còn Lộc đã có gia đình. Lộc đưa người vợ trẻ là Ngọc Di, lúc đó đang cưu mang đứa con đầu lòng, ra Tân Sơn Nhứt hôm 28 thánng tư, 75 để được đưa qua Guam cùng một số gia đình của các phi công khu trục khác. Tại Guam, Ngọc Di nóng lòng tìm chồng, chuyến bay nào tới chị cũng ra thăm hỏi tin tức. Gặp vài phi công cùng PĐ với Lộc, chị lo lắng hỏi “Anh Lộc đâu anh….anh Lộc đâu anh?” Họ không cầm đuợc nước mắt khi thấy người vợ trẻ của bạn mình hớt hả tìm chồng, bụng thì chắc cũng đến lúc gần sanh. Không biết gì hơn họ chỉ cầu mong cho Ngọc Di găp lại Lộc trong những chuyến tới…
Sự phân ly giữa vợ chồng, gia đình thân thuộc cùng những đau thuơng khác của 30 tháng 4, 1975 đã được nhạc sĩ Lam Phương diễn tả lại trong “Con Tàu Định Mệnh” ...
… Ra đi trong giờ đau thuơng
Lúc quê huơng bàng hoàng
Người say phút vinh quang
Ai đi ai ở nào hay
Nguời Đông kẻ phuơng Tây
Cùng sống trong đọa đầy…
Rồi cháu Nguyễn Lộc Đan Vi (Vivi) đã ra đời trên đất Mỹ tự do nhưng chưa bao giờ đươc thấy mặt người cha hào hùng và dấu yêu của mình. Nhiều năm sau, từ những người bạn tù vượt biên, Ngoc Di đã biết được sự hy sinh dũng cảm của chồng mình và cũng từ đó bắt đầu cuộc hành trình tìm di cốt của anh. Trải qua bao nhiêu cam go trên 30 năm nay, Ngọc Di đã nhiều lần về VN lục lọi, tìm kiếm qua đủ mọi phuơng cách nhưng không thành công. Chị cùng cháu gái cũng bắt đầu hơi nản chí. Chị nghĩ chỉ còn một cách cuối cùng là nhờ những nhà “ngọại cảm”. Là một người Công Giáo, chị cũng không mấy tin vào viêc này, nhưng cũng vẫn muốn thử vì nếu không thành công thì cũng yên tâm với chính mình và anh linh của anh Lộc vì chị đã dùng đủ mọi cách.
"Bằng mọi giá Di phải tìm cho ra mộ của hai Anh Lộc và Anh Bé, 33 năm trước Anh Lộc đã lo cho Di ra khỏi VN thì Di cũng đã hứa với vong linh Anh Lộc là Di sẽ đưa Anh đến Mỹ (xương cốt ) một nơi....thiên-đàng, tự-do mà Anh đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng!!!!"
Ngọc Di
Cuộc hành trình của Ngoc Di thật là gian nan và qúa dài. Xin vắn tắt là chị đã thành công mà từ đó cũng tìm ra hài cốt của Bé. Gia đình của Bé bên VN còn anh chị nhưng họ quá túng bẫn và vẫn còn cư ngụ tại những vùng kinh tế mới. Một người bạn chung khóa với Lộc là anh Nguyễn Thanh Mẫn (cựu HLV tại Trường Phi Hành Nha Trang -- định cư ở Úc nhưng đã về VN sống vài năm nay) đã liên lạc đuợc với anh Ba của Bé bên VN. Anh Mẫn đã ứng trước ra giúp cho gia đình Bé $500 US để lo mộ phần cho Bé. Gia đình Bé cũng đã đồng ý cho một phần hài cốt của Bé qua Mỹ để đuợc chung mộ phần với Lộc vì chị Ngọc Di đã nói là dù sao đi nữa thì hai nguời sống là bạn tù, chết thì cũng nằm cạnh nhau trên 32 năm nay – xin đừng chia rẽ họ, để kẻ đi Mỹ nguời ở lại VN!
Sau đây là sơ lược cho sự đón tiếp hai vị anh hùng bất khuất này:
- 3 tháng 11, 2008: Hài cốt của Lộc và Bé sau khi thiêu tại VN, được chị Ngọc Di, cháu Vivi, và anh Mẫn đưa sang Mỹ. Đại diện cho Tổng Hội Không Lực VN, Khóa 70A, Khóa 69B … sẽ có mặt tại phi trường Los Angeles để nghinh đón di cốt hai vị anh hùng này.
- 8 tháng 11, 2008: Một buổi lễ truy điệu anh linh của hai anh Lộc và Bé sẽ đuợc tổ chức tại nhà quàn Peek Family Colonial Funeral Home (7801 Bolsa Avenue, Westminster CA, 714-893-3525), 9:00AM – 3:00 PM. Sau đó di cốt của hai Anh sẽ được để tại nghiã trang Peek Family. Xin qúy vị và các chiến hữu trong vùng sắp đặt thời gian cố gắng đến thăm viếng cùng thắp một nén nhang cho hai anh hùng bất khuất này của Quân Đội VNCH nói chung và KQVN nói riêng.
- 8 tháng 11, 2008: "Đêm tưởng nhớ Nguyễn Văn Lộc" do gia đình chị Ngọc Di sẽ tổ chức tại nhà hàng lúc 6 giờ tối.
- Qũy Truy Điệu & Tương Trợ cho Gia Đình Lê Văn Bé: Để lo cho lễ truy địệu và cũng để tuơng trợ cho sự khó khăn và túng quẫn của gia đình Bé bên VN, qũy này đã được thành lập. Mọi đóng góp tùy hỷ xin gởi về cho thủ qũy:
o Đinh Đức Bản, 7994 Stepping Stone Circle, Stanton CA 90680, bacdau@yahoo.com, Cell (661) 992-6137.
Kính báo,
Tổng Hội Không Lực VN
Khóa 70A và Khóa 69B
XIN LƯU Ý: Chị Ngọc Di cho biết là gia đình chị hoàn toàn không nhận phúng điếu cho anh Nguyễn Văn Lộc. Nên sự kêu gọi trên là cho gia đình của bạn Lê Văn Bé bên VN.
Vĩnh Biệt
Xin được gửi những giòng này để truy niệm
hai anh Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé.
NT. (CanhThep.com)
Ngày còn bé anh thường hay mơ ước
Như chim bằng đang xoải cánh tung bay
Liệng chao nghiêng giữa khoảng rông trời mây
Và ấp ủ dáng hình loài Thiết Điểu
Qua năm tháng anh giã từ đời niên thiếu
Bước đăng trình theo nỗi khó quê hương
Xếp bút nghiên anh dấn bước lên đường
Mang Cánh Thép, góp phần cho quê Mẹ
Nuôi chí cả, tung hoành, năm năm lẽ
Vận nước trôi, anh chịu cảnh tù đày
Đã hết rồi, đành xếp mộng trời mây!
Và gậm nhấm nỗi hờn trong cũi sắt!!!
Lệ anh hùng bao đêm vương tròng mắt
Anh quyết tâm đào thoát khỏi xiềng gông
Nhưng cao xanh, không thỏa kẻ có lòng
Anh ngã xuống, vết đạn thù cày xác
Đã mấy mươi Thu, hồn anh phiêu bạt
Giờ trở về, hôi ngộ chiến hữu xưa
Tình yêu thương biết nói mấy cho vừa
Xin anh hãy ngậm cười trong yên nghỉ...
Lễ Truy Niệm 2 Không Quân Lê Văn Bé, Nguyễn Văn Lộc Việt Báo Thứ Hai, 11/10/2008, 5:18:00 PM
Westminster (Cổ Ngưu) - - 10 giờ sáng Thứ Bảy ngày 8 tháng 11 năm 2008. Tại phòng số 1 Peek Family gần 400 Quan Khách, gia đình Không Quân, đại diện các Quân Binh Chủng QLVNCH, thân hữu và gia đình tham dự lễ truy niệm cố Trung Úy KQ Nguyễn Văn Lộc thuộc Phi Đoàn 548 Ó Đen và Cố Trung Úy KQ Lê Văn Bé thuộc Phi Đoàn 550 Nhện Đen.
Buổi lễ diễn ra trong bầu không khí trang nghiêm, vô cùng xúc động. Điều hợp chương trình KQ Phạm Đình Khuông.
Bắt đầu buổi lễ KQ Nguyễn Thanh Mẫn, người bạn tù đã lên lược qua về cuộc vượt thoát của 2 đồng đội Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé, cũng như sự chịu đựng cang trường với tinh thần bất khuất của hai chiến sĩ KQ đã anh dũng hy sinh vào ngày 26 tháng 3 năm 1976. Sau đó Anh cũng đã kể qua về những diễn tiến đi tìm hài cốt của Anh Bé và Anh Lộc. Trong nỗi xúc động Anh đã nghẹn ngào nói những thao thức trong lòng anh mỗi khi nghĩ về hai người bạn. Anh đã nói chi tiết trong những bài viết của anh với 2 mẩu chuyện về cố KQ Lê Văn Bé và Nguyễn Văn Lộc với “ Những mãnh đời còn lại và vết đạn thu.”
Tiếp theo KQ Trương Văn Huệ lên đọc tiểu sử của KQ Nguyễn Văn Lộc và KQ Dương Viết Đang lên đọc tiểu sử KQ Lê Văn Bé.
Sau đó Niên Trưởng KQ Lê Văn Thảo, Không Đoàn Trưởng Không Đoàn 92 Chiến Thuật, Sư Đoàn II KQ thay mặt Tổng Hội Không Lực lên đọc tuyên dương công trạng của 2 Sĩ Quan KQ Lê Văn Bé và KQ Lê Văn Lộc. Ông nói khi còn tại ngủ là 2 chiến sĩ gan dạ, tham dự nhiều chiến trường với tinh thần chiến đấu dũng mãnh, là những phi công có kinh nghiệm, luôn luôn nêu cao tinh thần đồng đội, quật cường, bất khuất trước kẻ thù, thà chết không đầu hàng giặc, với tinh thần chống cộng quyết liệt đã thể hiện lòng yêu nước cao độ của người chiến sĩ không quân trong tập thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. . . .
Tiếp theo là lễ phủ Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa lên quan tài của 2 chiến sĩ trong lễ nghi quân cách. Sau phần phủ cờ KQ Nguyễn Hữu Phong lên đọc điếu văn. Mặc dù thời gian trôi nhanh sau 33 năm nhưng những kỷ niệm những hình ảnh thân thương trong tình chiến hữu qua những lời trong điếu văn đã làm cho chúng ta tưởng như mới tự hôm nào của những ngày tang thương sau 1975. . .
Niên Trưởng Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, Cựu Tư Lệnh Không Quân, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện Tập Thể Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa lên ngỏ lời phân ưu và quàng khăn tang cho bà quả phụ Ngọc Di là vợ Nguyễn Ngọc Đan Vi là con của Cố KQ Nguyễn Văn Lộc được biết bà quả phụ Ngọc Di vừa làm cha, làm mẹ suốt 33 năm ở vậy để nuôi con cho đến ngày hôm nay được nhận lại hài cốt của chồng tiếp tục phụng thờ.
Sau đó là những lời phân ưu của Nghị Viên Tạ Đức Trí, của đại diện TTCCS Tây Nam Hoa Kỳ Trần Trọng An Sơn, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam California Ông Phan Tấn Ngưu, Phụ Tá Chủ Tịch đặc trách thương binh xã hội BS Phạm Đức Vượng, Đại Diện Phi Đoàn Ó Đen, Nhện Đen Lê Văn Thảo, Đại Diện Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Tô Phạm Liệu. Tất cả mọi người đều gởi lời chia buồn đến thân nhân và tang quyến, đồng thời cũng ca ngợi gương hy sinh của 2 chiến hữu KQ.
Sau đó KQ Bùi Trí Dũng thay mặt Tổng Hội Không Lực lên ngỏ lời phân ưu và cảm ơn quan khách, gia đình Không Quân, các Quân Binh Chủng bạn và thân hữu đã hiện diện trong buổi lể.
Cuối cùng lời cảm ơn của Chị Ngọc Di đại diện tang quyến.
Sau đó là phần thăm viếng linh cửu. Tiếp theo là phần lễ nghi tôn giáo. Mở đầu với nghi thức Phật Giáo do Hòa Thượng Thích Nguyên Trí, Viện Chủ Chùa Bát Nhã cùng các chư tăng ni cử hành lể. Trước khi hành lễ Hòa thượng có đôi lời chia buồn với tang quyến và sau đó Hòa Thượng ca ngợi tinh thần chống Cộng Sản bất khuất và anh dũng của 2 chiến sĩ KQ Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé. Hòa thượng nói tiếp rằng nhờ những sự hy sinh cao cả của Quân Dân Cán Chính, Việt Nam Cộng Hòa mà hôm nay chúng ta mới được có cuộc sống tự do, dân chủ trên quê hương nầy. Nhân dịp nầy Hòa Thượng cũng kêu gọi Cộng Đồng chúng ta ở hải ngoại nên nghĩ về những gương hy sinh nầy mà chúng ta đoàn kết để tiếp tục yểm trợ cho những phong trào đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền của 80 triệu đồng bào ta trong nước đang sống dưới ách thống trị độc tài của chính quyền Cộng Sản hiện nay. Phần Nghi Lễ Phật Giáo chấm dứt.
Tiếp theo là phần nghi lễ Công Giáo do Linh Mục Trần Văn Hân chủ lễ, trong dịp nầy Linh Mục cũng gởi lời chia buồn đến tang quyến..
Nghi lễ tôn giáo chấm dứt, lễ di quan và xếp cờ trao cờ cho gia đình tang quyến. Gia đình Không Quân hát bài Không Quân Hành Khúc tiễn đưa hài cốt đến nơi an nghĩ cuối cùng tại nghĩa trang Quân Đội (Peek family).
Được biết Linh Vị và một phần hài cốt của Cố KQ Lê Văn Bé, pháp danh Quảng Trí Thiện được đưa về thờ tại Chùa Bát Nhã và lễ cầu siêu cũng được long trọng tổ chức vào lúc 11 giờ trưa Chủ Nhật ngày 9 tháng 11 năm 2008.
Lễ Truy Điệu 2 Cố Phi Công Nguyễn Văn Lộc Và Lê Văn Bé Việt Báo Thứ Năm, 11/6/2008, 5:18:00 PM
Tổng Hội Không Lực Và Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại Mời Dự: lễ truy điệu 2 cố phi công Nguyễn văn Lộc và Lê văn Bé
Tổng Hội Không Lực Và Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại đã gửi Thông Báo về việc tổ chức lễ truy điệu cho 2 cố phi công QLVNCH Trung úy Nguyễn Văn Lộc và Trung úy Lê Văn Bé. Nguyên văn Thông Báo như sau.
THÔNG –BÁO
Tổng-hội không-lực và tập-thể chiến-sĩ VNCH hải-ngoại sẽ tổ-chức lể truy-điệu cho hai anh-hùng không-quân đã chiến đấu cho đến giờ phút cuối cùng sau khi vượt thoát khỏi trại tù cải-tạo.
Trong thời gian ở tù hai Anh bị bắt đi làm lao-động ở trong rừng , đã tìm thấy và cất dấu được mấy quả lựu đạn mini để dùng khi hữu sự. Sau đó ít lâu hai Anh đã thoát chạy vào rừng ẩn nấu. Vì thiếu lương thực sau nhiều ngày lẩn tránh nên hai Anh đã di-chuyển ra bìa rừng để tìm đường về nơi có dân-cư. Việt-cộng đã phát hiện,rượt đuổi và những viên đạn AK cũa chúng làm hai ANH ngã quỵ; trước khi chết hai Anh đã cho nổ tung lựu đạn mang theo làm chết mấy tên VC. Hai Anh thà chết chứ không chịu VC bắt lại.
Trân trọng kính mời quý Niên-trưởng cùng quý chiến-hữu, quý đồng hương tị-nạn cộng-sản và cơ-quan truyền thông báo-chí vui lòng đến tham-dự lễ truy-điệu và tưởng-niệm hai phi công anh-dũng của quân-lực VNCH.
Sau 32 năm thân xác bị chôn vuì nơi rừng sâu,hẻo lánh, hai mẹ con và các chiến-hữu dã đem được tro tàn của chồng,cha,bạn là cố trung-uý Nguyễn văn Lộc và người bạn là cố trung-uý Lê văn Bé sang miền đất tự-do
Lễ truy-điệu cho cố tr/uý KQ Nguyễn văn Lộc thuộc phi doàn 548 Ó Đen và cố tr/uý KQ Lê văn Bé thuộc phi đoàn 550 Nhện đe sẽ được tổ-chức tại Peek family Westminster CA phòng số một (1), vào lúc 10 giở sáng ngày thứ bảy, 8 tháng 11 năm 2008.
Trân trọng kính mời.
Bùì trí Dũng, Tổng hội trưởng, 714 925 2010 Trần trọng An-Sơn, Trung-tâm trưởng, 714 980 3594.


Kính gởi toàn thể qúi vị cùng các chiến hữu:
Xin được gởi đến qúy vị cùng các chiến hữu về lễ truy điệu và tưởng niệm cho hai vị anh hùng bất khuất của Quân Đội VNCH nói chung và KQVN nói riêng --- cố Tr/Úy Nguyễn Văn Lộc và cố Tr/Úy Lê Văn Bé.
Tr/Úy Nguyễn Văn Lộc
Tr/Úy Lộc thuộc Khóa 70A, là phi công A-37 trong PĐ 548 tại Phan Rang còn Tr/Úy Bé xuất thân từ Khóa 69B cũng là phi công A-37 nhưng với PĐ 550 tại Đà Nẵng. Khi đại nạn 30 tháng 4, 1975 bao trùm cả miền Nam VN, hai anh bị kẹt lại và phải đi “cải tạo” tại trại tù Long Khánh. Lộc và Bé cùng môt số bạn tù đã âm mưu trốn tù bằng cách lén lút dự trữ thực phẩm và lựu đạn. Vào ngày 26 tháng 3 năm 1976, hai anh trốn tù nhưng bị bọn CS phát giác lùng bắt. Hai anh chẳng những không đầu hàng mà còn liệng lựu đạn chống trả nên đã bị bọn chúng bắn chết. Hai anh đã biết rằng nếu để bọn chúng bắt sống thì cũng bị xử bắn truớc mặt đồng đội mà thôi. Tinh thần bất khuất ấy cùng những chi tiết vuợt tù này đã được tác giả Nguyễn Mạnh Trinh viết trong bài “Chuyện những người KQ ngày tan chiến” và đuợc phổ biến rộng rãi, kể cả trên Cánh Thép.
Thân xác đẫm máu cùng đầy những lỗ đạn tàn ác của Lộc và Bé đã bị bọn CS lôi về phơi giữa trại tù để đe dọa cùng dằn mặt những tù nhân khác. Hai anh đuợc các bạn tù chôn dưới một góc cây và lén lút làm dấu hầu sau còn có thể tìm ra. Gia đình của Bé có ra thăm nhưng không đuợc bốc mộ. Lúc đó Bé tuy còn độc thân nhưng đã có vị hôn thê, còn Lộc đã có gia đình. Lộc đưa người vợ trẻ là Ngọc Di, lúc đó đang cưu mang đứa con đầu lòng, ra Tân Sơn Nhứt hôm 28 thánng tư, 75 để được đưa qua Guam cùng một số gia đình của các phi công khu trục khác. Tại Guam, Ngọc Di nóng lòng tìm chồng, chuyến bay nào tới chị cũng ra thăm hỏi tin tức. Gặp vài phi công cùng PĐ với Lộc, chị lo lắng hỏi “Anh Lộc đâu anh….anh Lộc đâu anh?” Họ không cầm đuợc nước mắt khi thấy người vợ trẻ của bạn mình hớt hả tìm chồng, bụng thì chắc cũng đến lúc gần sanh. Không biết gì hơn họ chỉ cầu mong cho Ngọc Di găp lại Lộc trong những chuyến tới…
Sự phân ly giữa vợ chồng, gia đình thân thuộc cùng những đau thuơng khác của 30 tháng 4, 1975 đã được nhạc sĩ Lam Phương diễn tả lại trong “Con Tàu Định Mệnh” ...
… Ra đi trong giờ đau thuơng
Lúc quê huơng bàng hoàng
Người say phút vinh quang
Ai đi ai ở nào hay
Nguời Đông kẻ phuơng Tây
Cùng sống trong đọa đầy…
Rồi cháu Nguyễn Lộc Đan Vi (Vivi) đã ra đời trên đất Mỹ tự do nhưng chưa bao giờ đươc thấy mặt người cha hào hùng và dấu yêu của mình. Nhiều năm sau, từ những người bạn tù vượt biên, Ngoc Di đã biết được sự hy sinh dũng cảm của chồng mình và cũng từ đó bắt đầu cuộc hành trình tìm di cốt của anh. Trải qua bao nhiêu cam go trên 30 năm nay, Ngọc Di đã nhiều lần về VN lục lọi, tìm kiếm qua đủ mọi phuơng cách nhưng không thành công. Chị cùng cháu gái cũng bắt đầu hơi nản chí. Chị nghĩ chỉ còn một cách cuối cùng là nhờ những nhà “ngọại cảm”. Là một người Công Giáo, chị cũng không mấy tin vào viêc này, nhưng cũng vẫn muốn thử vì nếu không thành công thì cũng yên tâm với chính mình và anh linh của anh Lộc vì chị đã dùng đủ mọi cách.
"Bằng mọi giá Di phải tìm cho ra mộ của hai Anh Lộc và Anh Bé, 33 năm trước Anh Lộc đã lo cho Di ra khỏi VN thì Di cũng đã hứa với vong linh Anh Lộc là Di sẽ đưa Anh đến Mỹ (xương cốt ) một nơi....thiên-đàng, tự-do mà Anh đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng!!!!"
Ngọc Di
Cuộc hành trình của Ngoc Di thật là gian nan và qúa dài. Xin vắn tắt là chị đã thành công mà từ đó cũng tìm ra hài cốt của Bé. Gia đình của Bé bên VN còn anh chị nhưng họ quá túng bẫn và vẫn còn cư ngụ tại những vùng kinh tế mới. Một người bạn chung khóa với Lộc là anh Nguyễn Thanh Mẫn (cựu HLV tại Trường Phi Hành Nha Trang -- định cư ở Úc nhưng đã về VN sống vài năm nay) đã liên lạc đuợc với anh Ba của Bé bên VN. Anh Mẫn đã ứng trước ra giúp cho gia đình Bé $500 US để lo mộ phần cho Bé. Gia đình Bé cũng đã đồng ý cho một phần hài cốt của Bé qua Mỹ để đuợc chung mộ phần với Lộc vì chị Ngọc Di đã nói là dù sao đi nữa thì hai nguời sống là bạn tù, chết thì cũng nằm cạnh nhau trên 32 năm nay – xin đừng chia rẽ họ, để kẻ đi Mỹ nguời ở lại VN!
Sau đây là sơ lược cho sự đón tiếp hai vị anh hùng bất khuất này:
- 3 tháng 11, 2008: Hài cốt của Lộc và Bé sau khi thiêu tại VN, được chị Ngọc Di, cháu Vivi, và anh Mẫn đưa sang Mỹ. Đại diện cho Tổng Hội Không Lực VN, Khóa 70A, Khóa 69B … sẽ có mặt tại phi trường Los Angeles để nghinh đón di cốt hai vị anh hùng này.
- 8 tháng 11, 2008: Một buổi lễ truy điệu anh linh của hai anh Lộc và Bé sẽ đuợc tổ chức tại nhà quàn Peek Family Colonial Funeral Home (7801 Bolsa Avenue, Westminster CA, 714-893-3525), 9:00AM – 3:00 PM. Sau đó di cốt của hai Anh sẽ được để tại nghiã trang Peek Family. Xin qúy vị và các chiến hữu trong vùng sắp đặt thời gian cố gắng đến thăm viếng cùng thắp một nén nhang cho hai anh hùng bất khuất này của Quân Đội VNCH nói chung và KQVN nói riêng.
- 8 tháng 11, 2008: "Đêm tưởng nhớ Nguyễn Văn Lộc" do gia đình chị Ngọc Di sẽ tổ chức tại nhà hàng lúc 6 giờ tối.
- Qũy Truy Điệu & Tương Trợ cho Gia Đình Lê Văn Bé: Để lo cho lễ truy địệu và cũng để tuơng trợ cho sự khó khăn và túng quẫn của gia đình Bé bên VN, qũy này đã được thành lập. Mọi đóng góp tùy hỷ xin gởi về cho thủ qũy:
o Đinh Đức Bản, 7994 Stepping Stone Circle, Stanton CA 90680, bacdau@yahoo.com, Cell (661) 992-6137.
Kính báo,
Tổng Hội Không Lực VN
Khóa 70A và Khóa 69B
XIN LƯU Ý: Chị Ngọc Di cho biết là gia đình chị hoàn toàn không nhận phúng điếu cho anh Nguyễn Văn Lộc. Nên sự kêu gọi trên là cho gia đình của bạn Lê Văn Bé bên VN.
Vĩnh Biệt
Xin được gửi những giòng này để truy niệm
hai anh Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé.
NT. (CanhThep.com)
Ngày còn bé anh thường hay mơ ước
Như chim bằng đang xoải cánh tung bay
Liệng chao nghiêng giữa khoảng rông trời mây
Và ấp ủ dáng hình loài Thiết Điểu
Qua năm tháng anh giã từ đời niên thiếu
Bước đăng trình theo nỗi khó quê hương
Xếp bút nghiên anh dấn bước lên đường
Mang Cánh Thép, góp phần cho quê Mẹ
Nuôi chí cả, tung hoành, năm năm lẽ
Vận nước trôi, anh chịu cảnh tù đày
Đã hết rồi, đành xếp mộng trời mây!
Và gậm nhấm nỗi hờn trong cũi sắt!!!
Lệ anh hùng bao đêm vương tròng mắt
Anh quyết tâm đào thoát khỏi xiềng gông
Nhưng cao xanh, không thỏa kẻ có lòng
Anh ngã xuống, vết đạn thù cày xác
Đã mấy mươi Thu, hồn anh phiêu bạt
Giờ trở về, hôi ngộ chiến hữu xưa
Tình yêu thương biết nói mấy cho vừa
Xin anh hãy ngậm cười trong yên nghỉ...
Posted by Khoa 10B/72 Đồng Đế at 10:11 PM

Ngày mới gắn Anh Pha
Sáng hôm qua đồng đội tôi thức sớm
Vai kề vai ba lô nặng hành trang
Sương mù che cổng sau đến Ba Làng
Tay cầm súng bước mòn trên sỏi đá
Tiếng quân ca nhịp nhàng trong nắng hạ
Tôi băng rừng về trên đỉnh Hòn Khô
Bước chinh nhân làm bạn với sông hồ
Sáu tuần lể qua rồi trong khổ cực
Đêm nhìn xuống Vủ Đình Trường rạo rực
Hỏa châu nào rựng sáng ánh đêm đen
Tôi nhìn quanh những người bạn thân quen
Ngày mai có Anh Pha cài vai áo
Đồ lể phục còn thơm mùi long nảo
Đôi giày đen soi bóng đợi lên đường
Sáng hôm nay chải tóc đứng soi gương
Rồi vội vả sắp hàng chờ đi phép
Đồng Đế ơi kỷ niệm nào cũng đẹp
Nhưng không gì bằng ngày gắn Anh Pha
Nên tháng năm chinh chiến ở miền xa
Tôi vẩn nhớ Nha Trang ngày về phép.
SVSQ Lê Chiến khoá 8/72




Hẹn một ngày về
Anh đứng ngàn năm thao diển nghỉ
Em nằm xỏa tóc đợi chờ anh
Người yêu ơi câu ước hẹn chưa thành
Mà chinh chiến ngăn đôi mình đôi ngã
Đà Nẳng Nha trang cách nhau xa quá
Em ở phố phường còn nhớ anh không
Đây Nha Trang sóng vổ cạnh Hòn Chồng
Trường Đồng Đế những chiều êm nắng đổ
Đêm di hành nghe trùng dương sóng vổ
Lẩn tiếng buồn vang từ rặng thùy dương
Em ở phương xa trong buổi tan trường
Về đơn lẻ xin đừng buồn em nhé
Anh ra đi xả thân vì quê mẹ
Câu ước thề xin hẹn lại mai sau
Nếu sau nầy em còn nhớ thương nhau
Xin đọc lại cánh thư xanh anh gởi
Lời nhắn nhủ cùng em nầy em hởi
Nơi tuyến đầu còn vang tiếng đạn thù
Anh miệt mài trong khói lửa biên khu
Tan chinh chiến anh về cùng em nhé
SVSQ Lê Chiến khóa 8/72
Huyền thoại Hòn Khô
Anh một sớm rời Trường Sơn quê mẹ
Vào Nha Trang theo nhịp bước quân hành
Sương chiều về ước mái tóc ai xanh
Da sạm nắng hiên ngang hồn lộng gió
Em một sáng trường tan về trước ngỏ
Chiều Ba Làng thuyền xa bến nhấp nhô
Mắt em buồn nhìn vọng hướng Hòn Khô
Có cô gái nghìn năm nằm xỏa tóc
Anh tay trắng nhưng vòng tay ngà ngọc
Em diểm kiều nhưng mơ mộng bình thường
Ngày gặp nhau nghe thương quá là thương
Em gái sắc anh trai tài lưu luyến
Tay trong tay đưa em về trên biển
Nụ hôn đầu ngây ngất buổi bên nhau
Trùng dương ơi cơn sóng vổ xanh màu
Màu hy vọng một ngày tròn mộng ước
Rời quân trường miền xa anh dấn bước
Đêm từng đêm súng thù vọng nẻo xa
Ngày hành quân trên quốc lộ mười ba
Anh anh dũng hy sinh đền nợ nước
Từ phương xa tin buồn em biết được
Chiến hào thành nấm mộ phủ đời anh
Khăn tang nào che mái tóc em xanh
Người cô phụ khóc thương hồn tử sỉ
Rồi từ đó anh đứng thao diển nghỉ
Để em nằm xỏa tóc đợi chờ anh .
Nghia trang buồn tan vở mộng ngày xanh
Anh đứng đó ngẩn ngơ trong huyền thoại
SVSQ Lê Chiến khóa 8/72
Chi Đoàn 2/15 TK Lử Đoàn III KB
Em vẫn còn xõa tóc đợi chờ
Phạm Hùng, TX
Riêng tặng Thiếu úy Vũ nhật Minh Khoá 10B/72 Ðồng Ðế Nha Trang
Anh bỏ đi không còn thao diễn nghĩ
Em vẫn nằm xõa tóc đợi chờ anh
Ngày lại ngày..mỏi mắt hướng biển xanh
Người chiến sĩ năm xưa đâu chẳng thấy..!
Chàng biền biệt từ tháng Tư năm ấy
Thuỡ giặc tràn cướp mất đất quê hương
Ðồng Ðế buồn cây cỏ phủ tang thương
Lưng chừng núi sương vương thành mây trắng
Những buổi trưa hàng dương buồn trong nắng
Ðứng im lìm ủ rủ nhớ thương ai
Thoáng ngày nào làm bạn những chàng trai
Xếp sách vở chọn đường mang cung kiếm
Ðường Ba Làng lâu nay đã tắt lịm
Vắng tiếng ca vang theo nhịp bước đều
“Tàn trong bóng chiều ..” sao thấy quạnh hiu!
Chàng chiến sĩ phương nào anh có biết ..?
Ðường Bãi Tiên non cao nước biếc
Núi hòn Khô da diết nhớ mong anh
Em vẫn nằm xõa tóc ngắm biển xanh
Nghe sóng vỗ tưỡng như lời anh nhắn
Chàng chiến sĩ năm xưa anh tắm nắng
Gội sương sa Ðồng Ðế đậm màu da
Anh ở đâu .. để ngăn cách tình ta?
Em vẫn đợi, vẫn nằm đây xõa tóc…
Phạm Hùng 10B72
Em trach anh nhung nguoi trai dung si
Chang giu gin trinh tiet cua doi em !!!!
Nao sung guom,nao chi khi hao hung
Anh bo lai: Em,Que huong, Dan toc....
Em trach anh nhung anh chang Dong De
Mang guom thieng nghao nghe anh mat troi
Khuc hung ca ,chan buoc chang ra roi
Anh dau nhi Hung, Hoa ,Minh Vu ?
Trần Quang Lan 10B72
Đợi người tôi yêu
Tôi có người yêu về Đồng Đế
Mùa hè đỏ lửa bảy mươi hai
Nên có những ngày trên phố Huế
Mình tôi ngơ ngẩn bóng trang đài
Tôi có người yêu thơ không gởi
Thao trường mệt mỏi lội đèo cao
Nên có những đêm mòn mỏi đợi
Cánh nhạn đường xa nhớ dạt dào
Tôi có người yêu là lính chiến
Ba lô súng đạn bước quân hành
Nên có những chiều về trên biển
Mình tôi thơ thẩn bóng mây xanh
Tôi có người yêu xa phố củ
Về Nha Trang rợp bóng thùy dương
Nên có tiếng chuông chùa Thiên Mụ
Ru tôi tròn giấc ngủ đêm trường
Tôi có người yêu chưa trở lại
Nụ hôn đầu mải ngọt đầu môi
Nên có cơn mê về ái ngại
[Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi ?]
SVSQ Lê Chiến khóa 8/72
Chi Đoàn 2/15 TK Lử Đoàn III KB
Thư người em gái
Chiều nay có ai về Nha Trang
Biển vắng người quen nhạt nắng vàng
Nhắn với anh tôi mùa lúa chín
Mẹ nhờ người gặt độ thu sang
Chiều nay có ai về đường xa
Thao trường còn vọng tiếng quân ca
Nhắn với anh tôi đừng khóc nửa
Quán trọ đường xa buổi nhớ nhà
Chiều nay có ai về biển Đông
Bầy chim én liệng đinh Hòn Chồng
Nhắn với anh tôi thuyền cập bến
Không có khách về quạnh bến sông
Chiều nay có ai về Bải Tiên
Dỏi mắt mờ xa một bóng thuyền
Nhắn với anh tôi mau trở lại
Giặc về quê mẹ hết bình yên
Chiều nay có ai về trong đêm
Đạn rơi tiếng pháo vọng bên thềm
Nhắn với anh tôi đừng ngại bước
Mẹ già hôm sớm sống bên em .
Lê Chiến khóa 8/72
Chi Đoàn 2/15 TK LĐ III KB
Thư gởi người em gái
Chiều hôm nay có ai về quê cũ
Tìm dùm tôi người con gái tên Duyên
Nhắn với em tôi giữ trọn lời nguyền
Em gắng đợi chờ ngày về tao ngộ
Nay quê nhà chắc đến muà lúa trổ
Cánh đồng làng rộn rã tiếng hò khoan ..
Tôi ở đây ngày vẫn bước nhịp nhàng
Cất tiếng hát quân trường vang tiếng gọi
Thao trường .. đổ mồ hôi lên cát sõi
Mai chiến trường bớt đổ máu đào rơi!
Ðời chiến binh phiêu bạt bốn phương trời
Mang chí cả tung hoành muôn vạn nẽo
Chiều Bải Tiên ngồi nhìn từng đợt sóng
Nghe rì rào tôi ngỡ tiếng em trao
Thì thầm nhau câu hẹn ước hôm nào
Yêu nhau mãi cho dù mình xa cách ..
Ðêm Nha Trang tôi đứng nhìn biển rộng
Ngắm ngân hà tôi mơ mộng vu vơ
Có vì sao rơi rớt thật xa bờ
Chợt cảm thấy lòng buâng quơ xao xuyến ..
Em yêu hởi! Những ngày xưa quyến luyến
Kẻ phương nầy, phương đó nhớ thương nhau
Cầu mong ngày đất nước hết binh đao
Mình sẽ mãi bên nhau em yêu dấu ..
Phạm Hùng 10b/72
Bài thơ kỷ niệm
Thân tặng các bạn đồng môn khóa 10B/72.
Huynh Trưởng Vĩnh Thao khóa 9 B/72
Ba mươi lăm năm ngày ấy ta chia tay,
Cung kiếm bên mình ta bỏ dở.
Tàn cuộc chiến về ôm mối hận,
Mộng chinh nhân dang dở cả cuộc đời,
Còn chi nữa lý tưởng cả đời trai,
Ba mươi lăm năm ngày ấy ta xa nhau,
Bốn phương là nhà ta tung cánh,
Cho tròn thỏa sức chí làm trai,
Anh biên giới, tôi vùng sông nước,
Anh cao nguyên, tôi băng rừng lội suối,
Cả cuộc đời nguyện hiến tặng non sông.
Ba mươi lăm năm ngày ấy đã xa,
Ba mươi lăm năm ngày ấy, ta lại gặp,
Bạc con tim, bạc cả mái đầu,
Cười trong nước mắt nuốt thương đau,
Mang kỷ niệm lý tưởng cả đời trai,
Men rượu đắng nuốt cả hận đời,
Tình chiến hữu say tình huynh đệ.
Ba mươi lăm năm ngày ấy đã xa,
Ba mươi lăm năm ngày ấy, ta lại gặp,
Huynh đệ chi binh vui mừng lắm,
Nâng chén cạn ôm cả vòng tay,
Kỷ vật đó đời trai nhớ quá,
Bạn bè dăm đứa chỉ còn đây,
Uống cạn ly này nữa anh bạn,
Ấm lòng chiến sỹ nay đầu bạc,
Buồn nhớ sưởi ấm thêm tình chiến hữu,
Ba mươi lăm năm ấy ta lại gặp,
Đừng quên nhé, ta lại gặp,
Đủ bạn bè thương nhớ lại đầy vơi…
26/10/1973 – 26/10/2008
Alfa Hoàng cúc
Nhớ người tình xa .
Ngày hôm ấy nắng vàng rơi rất nhẹ
Bến sông Hàn em buồn tiển anh đi
Tay trong tay nghe lệ nóng vành mi
Mai tan học em về ai trông ngóng
Ngày đi phép xe dừng cầu Xóm Bóng
Anh sinh viên lể phục dáng oai hùng
Trên Tháp Bà nhìn cơn nước mông lung
Trôi về biển lặng lờ nghe nhớ quá
Biển Nha Trang hàng thùy dương rủ lá
Âm điệu buồn cơn sóng vổ mênh mông
Anh đời trai phiêu bạt giử non sông
Chưa trở lại trên vai còn nặng gánh
Thu qua rồi đông về nghe thấm lạnh
Anh chưa về em có nhớ có thương
Mới hôm nao mà chín tháng quân trường
Rời Đồng Đế anh ra vùng hỏa tuyến
Viết cho em bài thơ từ trận chiến
Khi súng thù vang vọng nẻo sơn khê
Vì quê hương anh lở hẹn chưa về
Nhớ em quá những ngày trên chốn lạ
SVSQ Lê Chiến khóa 8/72
Chi Đoàn 2/15 TK LĐ III KB
Tiếc Thương
Kính tặng hương hồn Thiếu Úy Trương Văn Thông CĐ 2/18 TK đả tử trận tại Khiêm Hanh .
Mình rời Nha Trang về đơn vị mới
Về trường Long Thành gió bụi chiều mưa
Tao ở miền Trung về không ai đợi
Mầy ở Tuy Hòa đi chẳng ai đưa
Mình gần bên nhau những ngày lận đận
Mấy tháng học hành trả nợ non sông
Mản khóa ra trường mặc cho số phận
Về Lử Đoàn ba [III] thỏa chí tang bồng
Ngày đến Tân Uyên Thiết Đoàn mười tám
Chiến xa lên đồi đạn nổ tứ tung
Những buổi hành quân rừng khô cháy nám
Thiết Giáp Binh ta Dũng Liệt Kiên Hùng
Ngày rời An Điền xa vùng lửa đạn
Tao về mười lăm [ TĐ 15] trở lại An Điền
Biết nói sao đây đổ thừa số mạng
Đôi lần gặp nhau tâm sự hàn huyên
Chiều ở Khiêm Hanh chiến xa dừng lại
Người lính thân quen đến báo tin mầy
Anh dũng hy sinh chia buồn ái ngại
Khóc mải Thông ơi giọt lệ nồng cay
Một thằng còn đây một đời lửa đạn
Một thằng đi rồi một cỏi bình an
Ngày về Biên Hòa mềm môi rượu cạn
Khóc ai hôm nào chiều xuống nghia trang.
SVSQ Lê Chiến khóa 8/72 Đồng Đế
Chi Đoàn 2/15 TK Lử Đòan III Kỵ Binh
NHẬP CUỘC
Rồi cũng xong những nắng mưa gian khổ
Đã xa rồi thời ứng chiến, gát đêm
Ngày mai rực ánh hồng trên quang lộ
Vung gươm thiêng, khua ánh thép vang rền.
Mang hào khí của bao đời lịch sử
Súng trên tay nhập cuộc với binh đao
Bạn và tôi theo gương của anh hào
Mang tuổi trẻ dấn thân vì sông núi.
Bước giang hồ sá gì thân gió bụi
Gánh quê hương chia xẻ với Cha, Anh
Dường như có tiếng Người xưa vang vọng
Gọi Ta đi theo từng bước quân hành.
Rồi cũng đến lúc lìa xa Trường Mẹ
Bạn và Tôi dong ruổi bốn phương trời
Thanh kiếm bạc vẻ trang đời Bạn nhé
Cho vầng dương muôn thuở rạng trùng khơi.
Chào Đồng Đế, Nha Trang. Ta nhập cuộc!
Chào đêm mưa, sương muối, nắng quân trường.
Bạn cùng tôi lên đường vì đất nước
Mang hùng tâm tuổi trẻ đến biên cương.
HUY VĂN
(Nha Trang 28-08-1973 )
Nhận được tin buồn hiền mẫu của Cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại là:
Cụ bà HỒ VĂN KỲ TRÂN
Nhủ danh Liễu Cẩm Hồng
Đã thất lộc lúc 5giờ 45 sáng ngày 1 tháng 11-2008
Nhằm ngày mồng 4 tháng 10 năm Mậu Tý
Tại Garden Grove, California
Hưởng Thọ 94 tuổi
Chúng tôi xin thành kính phân ưu cùng Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và tang quyến, nguyện cầu cho hương linh cụ bà sớm được siêu sanh tịnh độ.
Ban Chấp Hành Hội Ái Hữu Quân Trường Đồng Đế Nha Trang (THSQ-QLVNCH)
Đồng Thành Kính Phân Ưu.
Câu Chuyện Người Thương Binh
Lần đầu tiên khi trở về VN vào mùa Hè/2000, và điều đầu tiên tôi nghĩ đến là đi thăm một người thương binh VNCH. Hắn là Thiếu Úy Phạm Minh Châu, chi đội trưởng của chi đoàn 1/ Thiết đoàn 10 kỵ binh/ SĐ 25BB. Thiếu úy Châu tốt nghiệp khóa 9C/72 đồi Tăng Nhơn Phú CƯ AN TƯ NGUY và cũng là người bạn đồng hương thân thiết từ khi còn mài mòn đũng quần dưới mái trường trung học. T/U Châu, hắn đã bỏ lại một đoạn chân trái từ nữa đùi trên ở chiến trường Bình Dương trước 30/04/75 khoảng vài tuần lễ. Cũng như những người thương binh khác, hắn bị đuỗi ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa ngày 02/05/75 khi vết thương còn rỉ máu, thật là quá tàn nhẫn đối với những người thương binh VNCH trong giờ thứ 25 của cuôc chiến.
Tôi đến thăm Châu một lần trước khi bị đưa vào lò tàn phá dung nhan (nhà tù cải tạo) của Cộng Sản. Năm năm sau khi ra khỏi tù, trở lại thăm Châu – lúc bấy giờ hắn là một người thợ may què (hỏi thăm láng giềng họ chỉ đó là nhà của Châu què) trong căn nhà lá xiêu vẹo ở một vùng quê với người mẹ già và một người em trai bệnh hoạn. Hỏi thăm về cuộc sống, Châu trả lời: “đôi khi thì cũng đũ, nhưng chỉ là cơm với muối ớt hay tiêu kho quẹt – còn thường xuyên thì phải độn đọt mì, đọt lang hay chỉ là củ khoai mì, khoai lang mà thôi, khổ lắm mày ơi !”. Tôi không khỏi xót xa và không cầm được nước mắt sau tiếng thở dài cùa Châu hết sức não nuột. “Còn về đời sống tinh thần thì sao hở mậy?” tôi hỏi tiếp và Châu trả lời: “ban đầu thì cũng giấy mời họp tổ, học tập chính trị, thế này thế kia, nhưng tao lì chả thèm đi đâu cả, sau cùng bọn nó đưa Công an tới hù dọa đưa tao đi cải tạo” – “nếu các ông đưa tôi đi cải tạo có khi còn sướng hơn là tôi phải ngồi đây suốt với cái chân què trên bàn máy mà không đũ cái ăn, các ông muốn làm gì thì làm bụng đang đói tôi không thể đi họp , học gì cả” Châu đã trã lời với bọn tay sai quỉ đỏ như thế rồi sau đó bọn chúng thấy không thể làm gì được người phế nhân liều mạng này chúng đành thôi và không quấy rầy Châu nữa.
Từ đó, thỉnh thoảng tôi đến thăm Châu khi thì vài lít gạo, lúc ít con khô đù và cũng có khi một vài xị rượu đế với mấy con khô khoai và 2 đứa cùng nhăm nhi cùng kễ nhau nghe chuyện đánh đắm ngày xưa. Đó là những lúc tôi thấy Châu vui như pháo tết và say sưa kễ lại những cuộc chạm súng với cộng quân trên chiến trường Bình Dương trong những ngày tàn của cuôc chiến. Lúc kết thúc những câu chuyện này thì thường thì là những tiếng than trong hơi thở dài ngao ngán “Than ôi ! thời oanh liệt nay còn đâu”.
Trước ngày lên máy bay đễ xa rời đất Mẹ VN, tôi đến thăm Châu để từ giả tôi nói “thôi mày hãy cố gắng tồn tại trên quả đất này và hy vọng tao mày sẽ gặp nhau và uống rượu đế” sau câu nói này của tôi thì từ nơi khóe mắt Châu 2 dòng nước mắt tuôn dài, tôi bước vội đi thật nhanh mà không dám quay nhìn lại. Trong đầu tôi đang nghĩ Châu đã mất tất cả; một phần thân thể cho quê hương, tương lai, tình yêu (nàng của Châu cũng đã biệt vô âm tính sau khi đưa Châu từ vĩa hè Tổng Y Viện Công Hòa về đến gia đình Châu đễ kết thúc một chuyện tình thời chinh chiến) và sự nghiệp. Thời gian qua, thỉnh thoảng tôi đến với Châu trong cái tình tuổi học trò và tình huynh đê chi binh, cái còn lại duy nhất trong cuộc đời của người phế binh bất hạnh, rồi bây giờ nó cũng sắp sửa mất luôn. Chắc là không còn nỗi đau nào hơn nữa đến với nó, thần sắc nó lúc này giảm đi rất nhiều, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng đó là lần sau cùng tôi gặp nó, Châu đã vĩnh viễn ra đi sau hơn một năm tôi rời bến khổ.
Nghe Má Châu nói lại, trong những ngày bệnh trỡ nặng, và trước lúc trút hơi thở sau cùng Châu còn thiều thào hỏi Má, “thằng Đ..(tên tôi) có thư về thăm con không Má ? – Tôi rất ân hận vì đã không viết thư thăm Châu trong những ngày đầu tôi đến Mỹ, mãi đến gần 2 năm sau tôi mới viết thư về thăm hắn và chẳng bao giờ nhận được hồi âm. Sau đó tôi đưa bà thăm mộ Châu, nhìn hình ảnh người Mẹ già lưng còng gối mõi đã và đang khóc măng non khiến lòng tôi quá đổi đau lòng, tôi dang rộng đôi tay ôm choàng lấy tấm than gầy guộc của Bà và thiều thào, “ xin Bác dằn bớt cơn đau buồn, cháu sẽ thay Châu làm con trai của Bác”. Tiếng khóc càng nức nở hơn sau câu nói, dường như tôi đã cho Bà thêm chút niềm vui và sức sống. Nhưng chĩ vài tháng sau khi tôi trở về Mỹ thì được tin Bà cũng đã ra đi và đến với người con trai bất hạnh của Bà.
Mùa GIÁNG SINH 2007 này qua hình ảnh T/U Lăng Tích Hương, người chiến sỉ mủ đỏ ngày nào, người bạn đồng môn khóa “BẤT KHUẤT”, người thương binh VNCH bị bỏ rơi nơi miền khổ nạn và cũng qua cái công viêc làm đầy ý nghĩ của anh em khóa 10B/72 {QUỶ TƯƠNG TRỢ ĐÔNG MÔN}. Tôi cũng đang tưởng nhớ đến T/U Châu người chiến sỉ mủ đen ngày nào, Anh đã yên nghĩ nơi cõi vĩnh hằng khi mới bước vào cái tuổi “TỨ THẬP NHI BẤT NGOẶT”. Xin thắp nén hương lòng cho bạn “T/U PHẠM MINH CHÂU”. Bất chợt nhớ đến bài thơ cũa người thi sĩ trây di PHAN LẠC GIANG ĐÔNG với đề tựa “Nói với thế hệ thứ ba để tiếp nối cuộc trường chinh tổ quốc”
Đã nhiều lần ta tìm trong ký ức
Không thấỳ gì ngoài máu lửa thù căm
Không thấy gì ngoài hàng hang lớp lớp
Bè bạn bỏ đời, rồi bè bạn đứng lên
Những ngọn cỏ xanh đã một lần đơm nụ
Đã tức tưởi miên trường , tức tưởi gảy ngang
Những ngọn cỏ xanh vùi rạn vào thân thể
Làm đá lót đường cho thế hệ thứ ba
Ôi ! chinh chiến đong đầy nước mắt
Trần Công Định SVSQ Khoa 10B72